
Theo Tổng Cục Thống Kê, năm 2025, tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2025 tăng hơn 8%. Trong khi đó, Còn chỉ số giá tiêu dùng (CPI-Consumer Price Index), thước đo phổ biến đánh giá lạm phát của một quốc gia, chỉ tăng 3.3%, được truyền thông trong nước đánh giá một năm thành công vượt mong đợi của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu đầy biến động.
Tuy nhiên, vẫn rất nhiều nhận xét và nghi ngờ về những số liệu này bị chính quyền “làm đẹp” vì bản thân các chỉ số tăng trưởng vẫn luôn là “giá trị thông tin” tuyên truyền cho tính chính danh của Đảng CSVN. Trong khi đó, người dẫn lại vẫn cảm thấy mức độ tổn thương kinh tế và chi tiêu tăng bào mòn đáng kể ví tiền của mình.
Tác động tăng trưởng GDP năm 2025
Chỉ số GDP (Gross Domestic Product) đại diện cho tổng giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng (không tính hàng trung gian để tránh trùng lặp) được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 quý hoặc 1 năm).
Tại Việt Nam, truyền thông lại thường dịch là tổng thu nhập quốc dân nên thường gây nhầm lẫn là thu nhập mỗi người dân (personal income). Nguyên nhân chủ yếu là vì trước năm 1992, Việt Nam sử dụng hệ thống thống kê cũ (MPS – Hệ thống sản phẩm vật chất) của các nước XHCN. Khi đó, chỉ tiêu chính để đánh giá kinh tế là “thu nhập quốc dân” (NI). Sau năm 1992, Việt Nam chuyển sang hệ thống quốc tế (SNA) và dùng GDP nên Thói quen dùng từ “thu nhập quốc dân” từ thời cũ vẫn còn sót lại.
Năm 2025 là năm đầy biến động của kinh tế – chính trị toàn cầu. Chiến tranh xâm lược Ukraine của Nga đã làm gián đoạn nguồn cung nhiều mặt hàng ở Châu Âu làm giá cả tăng cao. Trong khi thuế quan diện rộng của tổng thống Donald Trump cũng gây náo loạn thị trường tài chính Hoa Kỳ. Việt Nam, một nền kinh tế phụ thuộc lớn vào xuất khẩu, cũng trong tầm ảnh hưởng khi ban đầu bị đánh thuế lên tới hơn 40% và giảm xuống còn 20% sau đàm phán.
Tuy nhiên, từ Tháng Tư, chính quyền Trump chính thức áp dụng thuế quan mới: mức trung bình 20% đối với hàng hóa Việt Nam, và lên đến 46% cho một số mặt hàng như điện thoại thông minh và linh kiện, đây là phần mở rộng của chính sách “thuế quan đối ứng” nhằm giảm thâm hụt thương mại Mỹ.
Điều này dẫn đến quý II chứng kiến xuất khẩu chậm lại, với tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng 12% so với dự kiến 18%, gây thiếu hụt khoảng $10-15 tỷ theo ước tính từ Foreign Policy. Để đối phó, chính phủ Việt Nam đẩy mạnh các biện pháp nội địa: Vào Tháng Hai, mục tiêu đầu tư hạ tầng được nâng từ 6% lên 7% GDP, tương đương khoảng 700 nghìn tỷ VND (khoảng $28 tỷ), tập trung vào xa lộ, phi trường và cảng biển. Đồng thời, Ngân Hàng Nhà Nước (SBV) nới lỏng chính sách tín dụng bất động sản qua Luật Sửa Đổi về Tổ Chức Tín Dụng (thông qua Tháng Bảy), cho phép tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 19% – mức cao nhất trong nhiều năm.
Sang quý III, tác động của thuế quan trở nên rõ nét hơn khi một số doanh nghiệp xuất khẩu phải cắt giảm sản xuất, nhưng Việt Nam bất ngờ hưởng lợi từ việc chuỗi cung ứng dịch chuyển khỏi Trung Quốc (nơi chịu thuế cao hơn, lên đến 60%). Xuất khẩu sang Mỹ vẫn tăng 28%, đạt $153 tỷ, nhờ các mặt hàng như giày dép và dệt may chiếm thị phần lớn hơn. Đến quý IV, đỉnh điểm là ngày 19 Tháng Mười Hai, Việt Nam khởi công và khánh thành đồng loạt 234 dự án hạ tầng lớn, tạo việc làm cho hàng triệu lao động và kích thích nhu cầu nội địa.
Việc nâng mục tiêu đầu tư hạ tầng không chỉ từ ngân sách nhà nước mà còn thu hút vốn FDI (giải ngân kỷ lục $28 tỷ năm 2025), giúp bù đắp cho xuất khẩu bằng cách cải thiện logistics – như mở rộng cảng Vân Phong để giảm chi phí vận chuyển. Các doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt từ Mỹ và Nam Hàn, là bên hưởng lợi gián tiếp: Họ chuyển nhà máy sang Việt Nam để tránh thuế quan, dẫn đến ngành công nghiệp tăng 8.95% và đóng góp 43.62% vào tăng trưởng GDP.
Ngược lại, các nhà xuất khẩu Việt Nam như VinFast hay các công ty dệt may phải đối mặt với thách thức trực tiếp từ thuế quan, nhưng được hỗ trợ qua tín dụng ưu đãi cho bất động sản – giúp các dự án nhà ở và khu công nghiệp phục hồi, với giá bất động sản tăng đầu năm nhưng ổn định sau nhờ quy định mới kiểm soát giá. Các tổ chức quốc tế như World Bank và IMF cung cấp phân tích, cảnh báo về rủi ro bong bóng bất động sản nhưng cũng thừa nhận vai trò của hạ tầng trong việc duy trì tăng trưởng.
Từ góc độ kinh tế vĩ mô, thuế quan Trump đã tạo ra thiếu hụt xuất khẩu rõ rệt: Mặc dù tổng xuất khẩu tăng 15.7%, con số này thấp hơn 5-7% so với kịch bản không có tariffs, chủ yếu ảnh hưởng đến ngành điện tử (giảm 10% thị phần ban đầu). Tuy nhiên, đầu tư hạ tầng đã đóng góp khoảng 40-50% vào tăng trưởng GDP, bằng cách kích thích nhu cầu nội địa – ví dụ, các dự án đường cao tốc Bắc-Nam giảm thời gian vận chuyển 30%, giúp hàng hóa nội địa cạnh tranh hơn và tạo việc làm cho 2 triệu lao động.
Về tín dụng bất động sản, chính sách nới lỏng đã đẩy cung cấp nhà ở tăng 10% so với năm trước, giúp ngành xây dựng tăng 8.95% và bù đắp cho sự suy giảm xuất khẩu bằng cách thúc đẩy tiêu dùng nội địa – người dân vay dễ dàng hơn để mua nhà, dẫn đến dịch vụ tăng 8.62%. Từ khía cạnh rủi ro, dù hiệu quả, các yếu tố này có thể dẫn đến nợ xấu nếu không kiểm soát – SBV đã điều chỉnh mục tiêu tín dụng xuống 15% vào cuối năm để tránh bong bóng. So sánh với các nước khác, Việt Nam giống Trung Quốc ở việc dùng hạ tầng để chống suy thoái, nhưng khác ở chỗ đa dạng hóa thị trường xuất khẩu (tăng sang EU và ASEAN) giúp giảm phụ thuộc vào Mỹ.
Từ đầu năm, SBV đặt mục tiêu tín dụng khoảng 16%, nhưng thực tế tăng nhanh nhờ chính sách nới lỏng để hỗ trợ phục hồi kinh tế. Đến quý I-II, tín dụng tăng khoảng 13-14%, với bất động sản bắt đầu “tăng tốc” nhờ thị trường phục hồi sau các luật liên quan (Luật Đất Đai, Luật Nhà Ở, Luật Kinh Doanh Bất Động Sản) có hiệu lực từ năm trước, giúp tháo gỡ pháp lý dự án.
Sang quý III, báo cáo tài chính của các ngân hàng niêm yết cho thấy dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản tăng 26,3% so với cuối 2024, chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng dư nợ. Áp lực đáo hạn trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) lớn, đặc biệt nhóm bất động sản, với hàng trăm nghìn tỷ đồng đến hạn, dẫn đến nhu cầu tái cấu trúc nợ qua tín dụng ngân hàng tăng mạnh. Đến quý IV, SBV ghi nhận tín dụng toàn hệ thống tăng 17,87% (tính đến 24/12), và ước đạt 19% cả năm – mức cao nhất nhiều năm. Cuối năm, SBV điều chỉnh định hướng cho 2026, siết chặt tín dụng bất động sản (không vượt tốc độ tăng trưởng chung năm 2025) và ưu tiên sản xuất, phản ánh lo ngại về rủi ro misallocation.
Vai trò các bên liên quan
SBV đóng vai trò trung tâm trong việc điều tiết, ban đầu khuyến khích tăng trưởng tín dụng để hỗ trợ kinh tế, nhưng sau đó cảnh báo kiểm soát rủi ro ở bất động sản. Các ngân hàng thương mại, đặc biệt nhóm lớn như Techcombank, VPBank, cho vay bất động sản tăng mạnh – ví dụ, một số ngân hàng có tỷ trọng dư nợ bất động sản lên đến 24-42% tổng dư nợ. Các tập đoàn bất động sản lớn (như Vingroup, Novaland) là bên hưởng lợi chính, sử dụng tín dụng để rollover trái phiếu đáo hạn (ước tính hàng chục nghìn tỷ đồng), thay vì đầu tư dự án mới, do tồn kho cao và pháp lý vẫn còn vướng mắc.
IMF và World Bank cung cấp phân tích độc lập: IMF lưu ý credit misallocation lớn, với bất động sản và xây dựng chiếm tỷ lệ cao, dẫn đến resource misallocation và làm giảm hiệu quả tăng trưởng dài hạn. World Bank nhấn mạnh rủi ro từ phục hồi bất động sản chậm, trong khi sản xuất (manufacturing) bị “crowded out” bởi các kênh vay dễ dàng hơn. Doanh nghiệp sản xuất, dù được ưu tiên trên lý thuyết, tăng trưởng tín dụng chậm hơn (ví dụ, manufacturing chiếm chỉ 12.39% dư nợ theo SBV cuối Tháng Mười, 2025), do lãi suất và điều kiện vay kém hấp dẫn hơn so với bất động sản.
Từ góc độ phân bổ, tín dụng bất động sản tăng vượt trội: dư nợ đạt hơn 4.1 triệu tỷ đồng (chiếm khoảng 23-24% tổng dư nợ), tăng 19-24% tùy nguồn (SBV và các ngân hàng niêm yết), cao hơn tăng trưởng toàn hệ thống. Một phần lớn dòng vốn này phục vụ đảo nợ trái phiếu – các chuyên gia từ WiGroup và VinaCapital ước tính nhu cầu rollover lớn do áp lực đáo hạn TPDN (hàng trăm nghìn tỷ đồng, chủ yếu bất động sản), dẫn đến doanh nghiệp chuyển từ kênh trái phiếu sang vay ngân hàng.
Ví dụ, cho vay kinh doanh bất động sản tăng 23.87%, trong khi tiêu dùng gắn với bất động sản tăng 12.4%. Ngược lại, sản xuất và chế biến chỉ chiếm 12.39% dư nợ (Tháng Mười, 2025), tăng chậm hơn, dù FDI vào manufacturing vẫn mạnh (chiếm 55-62% FDI mới). IMF cảnh báo misallocation này làm giảm TFP (total factor productivity) và tăng rủi ro nợ xấu, vì vốn bị “kẹt” ở lĩnh vực có hiệu quả thấp hơn thay vì sản xuất – động lực xuất khẩu và tăng trưởng bền vững. Rủi ro nổi bật: nợ xấu tiềm ẩn từ bất động sản (do dự án chậm tiến độ), và crowding out sản xuất, khiến ngành công nghiệp tăng trưởng chủ yếu nhờ FDI chứ không phải vốn nội địa. Tuy nhiên, SBV đã hành động cuối năm bằng cách siết room tín dụng bất động sản cho 2026, nhằm redirect vốn về sản xuất.
Sự tương đồng đáng sợ giữa 2 bờ đại dương
Nguy hiểm thay, tiền lệ mà người Mỹ vừa xác lập tại Venezuela lại tương đồng một cách đáng sợ với những gì Trung Quốc đang áp dụng tại Biển Đông. Nếu Washington có thể ngang nhiên coi Mỹ Latinh là sân sau theo “Học thuyết Monroe” để tùy ý can thiệp, thì Bắc Kinh cũng hoàn toàn có thể vin vào cái cớ đó để coi Biển Đông là “vùng đệm an ninh” và không gian sinh tồn cốt lõi của họ. Một khi luật pháp quốc tế trở thành thứ yếu phẩm xa xỉ, Trung Quốc sẽ chẳng còn ngần ngại gì mà không áp đặt “luật rừng” lên những nước láng giềng yếu thế hơn.
Thực tế tại quần đảo Hoàng Sa là minh chứng sống động nhất cho sự tàn khốc của tư duy này. Không cần ồn ào như cách Mỹ bắt giữ Maduro, Trung Quốc đang thực hiện một chiến thuật “Vùng xám” (Grey Zone Tactics) thâm hiểm hơn nhiều: dùng sự đã rồi để xóa nhòa lịch sử.
Trên đảo Phú Lâm, nơi họ chiếm đóng trái phép từ năm 1974, Bắc Kinh không chỉ quân sự hóa mà còn ráo riết “dân sự hóa” sự hiện diện của mình. Những rạp chiếu phim, trường học, bưu điện hay các tour du lịch tàu biển được dựng lên không nhằm mục đích phát triển kinh tế, mà nhằm tạo ra một lớp vỏ bọc “quản lý thực tế,” hòng tẩy trắng hành vi xâm lược ban đầu. Trung Quốc muốn thế giới nhìn nhận Hoàng Sa như một vùng lãnh thổ yên bình dưới sự cai trị của họ, chứ không phải là một điểm nóng tranh chấp cần giải quyết bằng luật pháp.
Trong bối cảnh “cá lớn nuốt cá bé” đó, Việt Nam đứng ở đâu? Là một quốc gia tầm trung nằm sát nách một siêu cường đầy tham vọng, Việt Nam không thể chạy đua vũ trang để giành lại chủ quyền bằng gươm súng. Vũ khí tối thượng và duy nhất mà chúng ta nắm giữ là tính chính danh lịch sử và sự bảo vệ của luật pháp quốc tế, cụ thể là Hiến chương Liên Hợp Quốc và UNCLOS 1982. Những tư liệu của các đội hùng binh Hoàng Sa – Bắc Hải thời Chúa Nguyễn, những tấm bản đồ phương Tây thế kỷ 18 thừa nhận Paracels thuộc về An Nam, tất cả sẽ trở nên vô nghĩa nếu thế giới quay trở lại thời kỳ hành xử bằng nắm đấm.
Do đó, việc một bộ phận người Việt dù ở phe phái nào vỗ tay tán thưởng khi thấy Mỹ chà đạp lên chủ quyền của Venezuela là một sự ngây thơ về chiến lược, nếu không muốn nói là hành động “tự sát tư duy.” Chúng ta không thể vừa cổ vũ cho hành động phá luật của Mỹ ở Tây bán cầu, lại vừa đòi hỏi Trung Quốc phải thượng tôn pháp luật ở Đông bán cầu. Nếu công pháp quốc tế bị coi là tờ giấy lộn ở New York, nó cũng sẽ bị coi là rác rưởi ở Tam Sa.
Đừng tự đập vỡ khiên chắn của chính mình
Dù hình ảnh ông Maduro bị điệu về New York có thể thỏa mãn những cảm xúc nhất thời, nhưng đó lại là tín hiệu báo động đỏ cho sự suy tàn của Chủ nghĩa Tự do Pháp trị, dọn đường cho một thế giới vận hành theo luật rừng khắc nghiệt của Thuyết Hiện Thực, nơi vốn dĩ là địa ngục đối với các quốc gia nhỏ bé.
Trong một hệ thống vô chính phủ mà các siêu cường được tự do hành động ấy, tiền lệ Mỹ bắt cóc lãnh đạo nước khác sẽ trở thành cái cớ hoàn hảo để Trung Quốc ngang nhiên xây đảo nhân tạo, cấm biển hay Nga sáp nhập lãnh thổ lân bang mà không chịu sự trừng phạt nào. Hơn ai hết, các nước nhỏ như Việt Nam cần một trật tự thế giới dựa trên luật lệ để kiềm chế tham vọng của các nước lớn, bởi việc ủng hộ hành vi bá quyền của ông Trump hôm nay chẳng khác nào gián tiếp hợp thức hóa tư duy “cá lớn nuốt cá bé” mà Bắc Kinh đang áp dụng lên chính dân tộc ta.
Lịch sử chủ quyền Hoàng Sa – di sản máu xương của cha ông dân tộc Việt Nam đã để lại – chỉ có thể được bảo vệ trường tồn bằng sự tôn nghiêm của công pháp quốc tế, chứ không thể đặt cược vào sự cổ vũ mù quáng cho thói hành xử cơ bắp của giới lãnh đạo siêu cường ngang ngược.
The post Giải mã chỉ số lạm phát Việt Nam liệu có bị thao túng? appeared first on Saigon Nhỏ.









