Thế GiớiVietnam

Đảng viên làm kinh tế: Liệu có gây méo mó cho thị trường?

Quy định số 224-QĐ/TW về việc đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh

“Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, có trách nhiệm tiên phong, gương mẫu trong lao động, sản xuất, kinh doanh, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới[…]” – trích Quy định số 224-QĐ/TW về việc đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh.

Đây là một trong những văn bản quy phạm nội bộ đáng chú ý do Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành vào ngày 14/10/2026. Sau hơn 20 năm, Đảng Cộng sản dưới thời Tô Lâm lại một lần nữa lật lại xem xét các quyền hạn đầu tư, kinh doanh của đảng viên kể từ Quyết định số 15 vào năm 2006.

advertisement

Quy định mới được kỳ vọng sẽ “khuyến khích, tạo điều kiện” cho đảng viên “làm giàu hợp pháp, chính đáng, gắn với kiểm soát xung đột lợi ích”. Tuy nhiên, trong thể chế độc đảng, vận hành theo con đường marxist, với hệ thống thông tin và chính sách tập trung vào bộ máy hành chính, Quy định 224, cũng như các quy định trước đây, vốn đã tự thân nó đặt ra những nghi ngại nhất định khi đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nội dung mới khác gì so với quy định cũ

Ở văn bản cũ từ năm 2006, quy định áp dụng một khuôn cấm chung đối với toàn thể đảng viên thuộc các thành phần được làm cố vấn, tham gia thành lập hoặc quản lý doanh nghiệp, tổ chức tư nhân. Quy định số 15 chỉ cho phép duy nhất một hoạt động đảng viên đầu tư tài chính thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, cổ phiếu hoặc trái phiếu theo các điều kiện quy định.

So với những nội dung trước đó, Quy định 224 mở rộng phạm vi nhóm thành phần đảng viên, đồng thời nới lỏng hơn sự cho phép tham gia đầu tư, kinh doanh theo cơ chế phân loại bốn cấp, bao gồm:

1. Hoạt động chuyên môn và khai thác tài sản tạo thu nhập
2. Đầu tư kinh doanh không thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành
3. Đầu tư kinh doanh có thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành
4. Đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành.

Điểm đáng chú ý của Quy định 224 là việc làm rõ quyền hạn của tất cả đảng viên, bao gồm cán bộ cấp cao thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư và lực lượng vũ trang, trong việc góp vốn, mua cổ phần tại các doanh nghiệp tư nhân bên ngoài và “khai thác tài sản tạo thu nhập” mà không cần sự phê duyệt trước từ nội bộ Đảng. Song song với việc nới lỏng các giới hạn đầu tư, Quy định 224 vẫn đặt hoạt động kinh doanh của đảng viên dưới sự kiểm soát chặt chẽ của tổ chức, thông qua cơ chế “cấp có thẩm quyền: quyết định, quản lý, phân công, giao nhiệm vụ, ủy quyền, xem xét và xử lý”.

Đặt Quy định 224 vào bối cảnh nền kinh tế Việt Nam

Hiến pháp quy định nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự điều tiết của kinh tế Nhà nước. Mặc dù vậy, nhiều chuyên gia lại chỉ ra rằng nền kinh tế đó vốn đang vận hành trên những nút thắt đan xen giữa các lợi ích nhóm chính trị. PGS.TS Christine Ngô từ Đại học Bucknell (Mỹ) gọi đây là một “xã hội tìm kiếm tư lợi”, nơi thị trường kinh doanh bị kiểm soát bởi độc quyền nhà nước, và các doanh nghiệp tư nhân muốn mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường phải có sự liên kết lợi ích với các nhóm chính trị.

advertisement

Cùng phân tích về xã hội này, Giáo sư Vũ Hồng Lâm từ Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á – Thái Bình Dương (Mỹ) đồng thời chỉ ra rằng thông qua mối quan hệ lợi ích này, các doanh nghiệp thân hữu với chính quyền sẽ có cơ hội tiếp cận quỹ đất công, tín dụng ngân hàng, rút ngắn các thủ tục hành chính, giành ưu thế trong đấu thầu và được tiếp cận chính sách mới sớm hơn. Bên cạnh đó, họ cũng được nhà nước “núp bóng bảo kê” qua các khẩu hiệu vì dân của chính quyền.

Theo PGS.TS Phạm Duy Nghĩa từ Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, các thuật ngữ “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” hay “sở hữu toàn dân”, như là tuyên xưng “đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân”, thường bị lợi dụng để làm bình phong che đậy cho các lợi ích của các tập đoàn kinh tế nhà nước với nhóm tập đoàn tài phiệt, nhằm bảo vệ đặc quyền kinh tế cho các tư bản thân hữu này.

Liệu có tạo ra sự “méo mó” cho nền kinh tế

Trước thực tế này, theo Tiến sĩ Nguyễn Quang A, “Quy định 224 không nới lỏng, mở rộng hơn cho cơ chế doanh nghiệp sân sau hay doanh nghiệp cánh hẩu”. “Vì doanh nghiệp sân sau hay cánh hẩu thường hoạt động theo những cơ chế phi chính thức, lắt léo chứ không theo quy định chính thức như vậy”, ông nói.

advertisement

Mặt khác, “với một quốc gia luôn có câu cửa miệng nhất quan hệ, nhì tiền tệ”, một chuyên gia kinh tế từ Đại học Kinh tế TP.HCM, cho rằng Quy định 224 “đang ngầm tạo lối tắt cho các đảng viên tham gia sâu hơn vào thị trường kinh doanh, và điều đó chắc chắn sẽ chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi mối quan hệ chính trị giữa đảng viên với một số doanh nghiệp”.

Theo vị chuyên gia này, đảng viên đa phần là người làm trong bộ máy nhà nước, điều này cũng có nghĩa rằng họ có thể sẽ biết chính sách, ví dụ về quy hoạch, dự án hạ tầng, hay định hướng đầu tư, v.v. Nếu những người này lại là những thành viên, cổ đông của các doanh nghiệp tư nhân, thì việc họ biết trước thông tin chính sách rồi “tuồng nó cho cửa sau của mình, hoặc họ sẽ ưu tiên cho một doanh nghiệp nào đó trúng thầu, thì rất dễ tạo ra sự méo mó trong môi trường cạnh tranh”, ảnh hưởng lâu dài đối với những doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp khởi nghiệp và những nhà đầu tư không có quan hệ chính trị.

Trên vai trò là một người làm kinh doanh, anh T ở TP.HCM, là chủ doanh nghiệp, và có nhiều năm làm cố vấn đầu tư, cũng bày tỏ sự quan ngại trước sự “méo mó” này. Anh cho rằng nếu một thị trường “nhìn đâu cũng thấy lợi ích nhóm thì điều đó sẽ kìm hãm sự phát triển của thị trường”. “Vì bản chất của sự phát triển nằm ở tính chất cạnh tranh, đối đầu liên tục, một là cạnh tranh về giá, hai là cạnh tranh về chất lượng như chiến lược đại dương xanh, với đại dương đỏ. Nhưng bây giờ thị trường nếu chỉ quanh đi quẩn lại bán buôn thuận lợi dựa trên quan hệ thì đó không còn là thị trường cạnh tranh đúng nghĩa nữa”, anh nói.

Là người đồng sáng lập ngân hàng VPBank, Tiến sĩ Nguyễn Quang A cũng đặt vấn đề “nếu họ [đảng viên] tuân thủ nghiêm ngặt những quy định này [Quy định 224] thì sẽ không có vấn đề gì”. “Tuy nhiên, vấn đề chính là ở CHỮ NẾU đó. Trên thực tế nếu những thông tin như vậy được tiết lộ cho các công ty cánh hẩu (nhưng không phải những công ty do người thân chi phối theo Quy định 224 quy định), và thực tế trên thế giới, nhất là kinh nghiệm Hungary, đa phần là như vậy, thì chắc chắn sẽ tạo ra những “méo mó” như vậy.”

advertisement

Hungary là nơi Tiến sĩ Nguyễn Quang A đã có thời gian sống và làm việc hơn một thập kỷ từ những năm nền kinh tế quốc gia bắt đầu vận hành dưới cơ chế của “Chủ nghĩa cộng sản Goulash”, nới lỏng kinh tế nhà nước, cho phép đảng viên tham gia kinh doanh.

Mới vào hôm 21/10, ông Matolcsy György, cựu Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Hungary (MNB), “cánh tay phải” của Thủ tướng nước này, đã bị bắt vì có liên quan đến sai phạm chuyển 266,5 tỷ forint (hơn 817 triệu USD) tài sản công sang 6 quỹ tư nhân (Pallas Athena) dưới danh nghĩa thúc đẩy nghiên cứu và giáo dục kinh tế, nhưng thật chất là để trao cho các thực thể tư nhân do đảng cầm quyền Fidesz chi phối, làm lợi cho gia đình mình và mạng lưới thân hữu.

Dẫn chứng từ vụ việc trên, Tiến sĩ Nguyễn Quang A gọi đây là cách điển hình của “Nhà nước Mafia” khi bản chất vốn dĩ của nhà nước lúc này lại gắn liền với các lợi ích cục bộ của nhóm doanh nghiệp thân hữu.

advertisement

Trở lại Việt Nam, một điểm đáng nói nữa của Quy định 224 này, như đã đề cập ở trên, là việc trao quyền giám sát hoạt động kinh doanh của đảng viên cho hệ thống nội bộ Đảng Cộng sản. Theo góc nhìn từ các chuyên gia, điều này đã tạo ra kẽ hở, tạo ra điều kiện cho những đảng viên được cấp trên “ưu ái”, là “kim bài miễn tử” đối với những sai phạm, đồng thời giao thêm quyền lực cho các cấp lãnh đạo ở các cơ quan Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam.

“Chắc chắn đây là đại vấn đề và chừng nào không có các cơ chế kiểm soát và cân bằng, không có tư pháp độc lập, không có báo chí độc lập và xã hội dân sự lành mạnh thì vấn đề này luôn tồn tại, nguy hiểm và dứt khoát nên tránh”, Tiến sĩ Nguyễn Quang A nhận định.

Ở khía cạnh khác, các ý kiến cũng cho rằng Quy định 224 vẫn đang là một văn bản quy định thuộc nội bộ Đảng Cộng sản, và đang có xung đột với một số luật hiện hành trước đó của Nhà nước như Luật Doanh nghiệp hay Luật Phòng, Chống tham nhũng. Vì vậy, với cơ chế Đảng lãnh đạo Nhà nước, và từ lâu đã trở thành nguyên tắc tổ chức cốt lõi trong hoạt động lập pháp; Quy định 224 đang là bước đệm căn cứ để chính quyền tiến hành sửa đổi, bổ sung một số nội dung của pháp luật Nhà nước trong thời gian tới.

Đảng viên không thể vừa là chiến sĩ cách mạng, vừa là ông chủ tư bản

advertisement

Trong lần nói chuyện với RFA, Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng “Quy định số 224 là một bước tiến tiếp của Đảng Cộng sản trong chủ trương cho đảng viên làm kinh tế”, nhưng ông cũng nhắc nhớ chính tiền thân của văn bản này là Quy định số 15 “đã từng dấy lên một cuộc tranh luận sôi nổi từ đầu năm 2006”.

Quay trở về hơn 20 năm trước, ý tưởng để đảng viên tham gia làm kinh tế đã trở thành đề tài được dư luận “đặt lên bàn nghị sự”. Khơi mào cho cuộc tranh luận này bắt đầu từ bài viết “Xây dựng Đảng ta thật vững mạnh” của cố Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Bình, cựu Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, đăng trên báo Nhân Dân vào ngày 23/02/2006.

Ở bài viết khi đó, ông Bình kịch liệt phản đối chủ trương “cho phép đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân, cho phép kết nạp cả những nhà tư bản tư nhân vào Đảng”. Ông cho rằng người đảng viên cộng sản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội lấy việc xóa bỏ chế độ bóc lột để làm lý tưởng cho đời mình, nên một cá nhân không thể đồng thời vừa là một chiến sĩ cách mạng đấu tranh xóa bỏ bóc lột, vừa là ông chủ tư bản.

Với chủ trương này, ông Bình chỉ rõ sẽ dễ làm nhạt nhòa bản chất giai cấp công nhân, dễ dẫn đến “cách hiểu sai lầm Đảng ta là Đảng của nhiều giai cấp”, vì khi Đảng kết nạp nhà tư sản, quần chúng công nông sẽ nghi ngờ về tính chính danh, đặt ra câu hỏi “vậy các anh là Đảng của ai?”. Các lập luận của ông Bình đồng thời còn viện dẫn thêm các lời di huấn của ông Hồ Chí Minh, nhà sáng lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam, về tiêu chuẩn đảng viên.

Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, do ông Hồ viết vào năm 1927, có phân định rõ rằng đã là người làm cách mệnh thì “tự mình” phải “vị công vong tư”, “không hiếu danh” và “ít lòng tham muốn về chất”. Vì tư bản thường dùng “phú quý làm cho dân tham”, nhằm mua chuộc, làm giảm ý chí đấu tranh. Cho nên, nếu người làm cách mệnh không rèn luyện tư cách cho tốt, thì sẽ dễ sa vào bẫy lợi ích vật chất và biến thành kẻ cơ hội.

Tiếp đó trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” vào năm 1947, Hồ Chí Minh xác định rằng “Đảng không phải là tổ chức để làm quan phát tài”. Theo đó, những người mắc bệnh “tự tư, tự lợi” sẽ đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích công, dụng của công để làm việc tư và “dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình”.

Để chống lại sự tham lam này, ông Hồ nhắc nhở mỗi cán bộ đảng viên cần đặt tư chất “liêm chính” lên hàng đầu, đòi hỏi người đảng viên “không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng”. Trong hầu hết những lời di huấn của ông Hồ để lại, ông cũng luôn nhắc nhở các “học trò đỏ” của mình phải luôn kiên quyết con đường chủ nghĩa Mác – Lênin, vẹn trọn “lời thề” nối chân những vị tiền bối khai mở ra chủ nghĩa cộng sản.

Các Mác đương thời cho rằng sứ mệnh của người cộng sản “không có bất kể một lợi ích riêng biệt nào khác tách rời lợi ích của giai cấp vô sản”, và mục tiêu lý luận chung là “xóa bỏ chế độ tư hữu tư sản”. Vì khi mang trong mình “tư cách là nhà tư bản” thì đã là hiện thân của chính “linh hồn” của sự bóc lột. Ngay cả khi là một ông chủ tốt cũng không thể tránh khỏi các xung đột lợi ích.

Đến thời kỳ của Lenin, lãnh tụ vĩ đại nhất của nhà nước Xô Viết, tiếp tục cảnh báo về nguy cơ tha hóa bộ máy nội bộ Đảng. Ông chỉ ra rằng trong những điều kiện kinh tế nhất định, một tầng lớp lãnh đạo công nhân có thể được hưởng đặc quyền, chịu ảnh hưởng của lợi ích tư sản và dần xa rời bộ phận đông đảo những người lao động có thu nhập thấp. Điều này, Lenin phê phán là xu hướng “cánh tả” – “một căn bệnh ấu trĩ”, làm suy yếu sức mạnh của tổ chức, “tước đi vũ khí của giai cấp vô sản để phục vụ lợi ích tư sản”, khiến quần chúng nhân dân dần mất lòng tin vào Đảng Cộng sản.

Tuy nhiên, những ý kiến của dư luận, và các tư tưởng cố hữu từ lâu làm nền tảng, đã không ngăn được Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua chủ trương này tại Đại hội 10 vào tháng 4/2006, và sau đó được quy định trong Quy định số 15/QĐ-TW ngày 28/8/2006. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khi đó tổ chức giải trình, khẳng định việc này không làm biến chất Đảng hay hạ thấp bản chất giai cấp công nhân, mà thay vào đó là giải pháp phát triển lực lượng sản xuất dưới sự định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự kiểm soát kỷ luật chặt chẽ của tổ chức Đảng.

Và trong Quyết định 224 ban hành gần đây, Ban Chấp hành Trung ương Đảng một lần nữa khẳng định rằng việc đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh “không làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của Đảng”, mà chỉ dừng lại ở việc “tạo điều kiện” hơn cho đảng viên được “làm giàu chính đáng”.

Show More
Back to top button